Ca si Tuấn Anh

không giống ai, không ai giống!Lý do đưa đẩy Tuấn Anh đến với con đường... không giống ai này không gì khác hơn là từ lòng say mê ca nhạc, sân khấu và nghệ thuật. Từ đó anh đã dốc tâm nghiên cứu để mong tìm được một điều gì mới lạ, trước nhất là trên phương diện hình thức, khác với những người đi trước...

Với một giọng ca mạnh, một cách phát âm rõ ràng và nhất là ở lối trang phục được coi là rất táo bạo, Tuấn Anh sau trên 20 năm lăn lộn trong nghề đã tạo cho mình được một chỗ đứng vững vàng trong số những nam ca sĩ hiện nay tại hải ngoại, mặc dù anh không là người thường xuyên xuất hiện trên video. Tuy vậy tên tuổi anh bây giờ đã trở thành rất quen thuộc với khán thính giả khắp nơi, nhất là qua những buổi trình diễn “live” mà Tuấn Anh luôn là người chủ động.

Riêng trên vấn đề trang phục, sự độc đáo của anh đã có nhiều người cho là lập dị, nhưng theo Tuấn Anh đó là những gì mới lạ mà anh muốn đưa vào nghệ thuật để tạo thành một nét đặc thù riêng cho mình. Người ta cho rằng thoạt đầu anh đã chịu ảnh hưởng không ít cách ăn mặc của một nam ca sĩ người Anh nổi tiếng là Boy Georges trước kia. Bây giờ tên tuổi của Boy Georges đã chìm vào lãng quên, trong khi Tuấn Anh vẫn một mình một chợ tung hoành trong làng ca nhạc Việt Nam. Nhiều giai thoại đã được thêu dệt chung quanh người nam ca sĩ này, và không ít thì nhiều anh đã bị một số người chỉ trích là lố lăng, không đứng đắn. Dĩ nhiên những lời chỉ trích đó tới tai anh, nhưng Tuấn Anh quan niệm “đường ta, ta cứ đi” để trở thành một hiện tượng đặc biệt. 
Tuấn Anh sinh trưởng trong một gia đình rất khá giả với những anh em trong gia đình nắm giữ những địa vị quan trọng trong nhiều ngành chuyên môn. Cũng chính vì vậy anh đã gặp nhiều khó khăn vì sự cản trở của những người thân khi bước vào lãnh vực ca nhạc. Do đó anh không được ai dìu dắt lúc ban đầu, chỉ tự tìm tòi học hỏi lấy với mục đích tiến thân trong ngành ca nhạc. Tại Sài Gòn, trước khi sang Mỹ vào năm 79, Tuấn Anh đã theo học tại các trường trung học Kiến Thiết và Petrus Ký và trường Đại Học Khoa Học tại Sài Gòn. Qua tới Mỹ, anh nhất quyết đi theo con đường đã chọn là ca nhạc, và chỉ gần hai năm sau đã chính thức trình diễn trước khán giả hải ngoại tại night club Maxim's ở Houston (Texas). Sự đưa đẩy người ca sĩ có tên thật là Nguyễn Tuấn Anh đến với ca nhạc theo anh nói là “rất tự nhiên và tình cờ”. Cái dịp tình cờ đó đã diễn ra trong lần đầu tiên tại Maxim's đề cập tới ở trên. Vợ chồng chủ nhân vũ trường đã để ý đến tiếng hát của anh qua những nhạc phẩm: Hello, Beat It, Billy Jean và Kiếp Đam Mê để sau đó mời anh cộng tác. Vào năm 81, Tuấn Anh đã cho đời tape nhạc đầu tiên của mình dưới tựa đề “Kiếp Đam Mê”.

Với những sắc thái đặc biệt, Tuấn Anh đã được mời đi trình diễn hầu như ở khắp mọi nơi trên thế giới. Với quan niệm luôn tôn trọng khán giả nên anh đã sắp đặt rất cẩn thận những lần trình diễn trên sân khấu, từ cách chọn lựa bài bản đến cách ăn mặc, từ điệu bộ cho đến ngôn ngữ khiến người nghe luôn hòa mình vào với những âm điệu khi nhẹ nhàng, khi sôi động trong phần trình diễn của anh. Đối với Tuấn Anh, anh luôn tạo những nét mới lạ trong những nhạc phẩm trình bày, dù cho đó là một bài hát cũ đã được nhiều người trình bày trước đó với mục đích tạo nên một sắc thái mới mẽ. Ngoài ra Tuấn Anh cho biết anh nghiên cứu rất kỹ những nhạc phẩm trình diễn trước khán giả cũng như được thu vào băng nhạc hay CD. Sở dĩ Tuấn Anh tạo được thành công một phần nhờ thời gian theo học hai năm ở Houston và Long Beach về “vocal”, “acting” và “performance” và sau khi tốt nghiệp đã áp dụng vào đầu óc nhiều sáng kiến của mình.

Có thời kỳ Tuấn Anh trình bày những nhạc phẩm Việt Nam theo thể điệu Rap tạo nhiều thích thú cho người nghe, Tuấn Anh cho biết chính anh đã có sáng kiến đó cũng như là người đầu tiên chuyển nhạc Trung Hoa qua tiếng Việt, đặc biệt trong số có nhạc phẩm Máu Nhuộm Bãi Thượng Hải rất nổi tiếng trong những năm đầu thập niên 60.

Người Lữ Hành Cô Độc
Mái tóc đen nhánh dài chấm lưng chải bồng cột thành đuôi ngựa phía sau, cặp lông mày vẽ đậm nét trên đôi mắt to đen, hàm ria tỉa gọn, mười ngón tay để móng dài (hay móng giả) chăm sóc kỹ lưỡng, hai chiếc cà-rá nhận hạt thật to lóng lánh, một sợi dây chuyền hai bông tai sáng chói, bộ quần áo lịch lãm ủi thẳng nếp và đôi giầy da cao gót là hình ảnh thường thấy của ca sĩ Tuấn Anh ngoài đời cũng như trên sân khấu.
Luôn chỉnh tề, tươm tất và lạ.
Và đó cũng là hình ảnh khán giả ưa thích ở Tuấn Anh, người ca sĩ có nhiều lời đồn đãi phía sau nhưng không ai biết, không ai dám quả quyết như thế nào. Chẳng hạn như rất nhiều lần, người ta đã thấy Tuấn Anh đùa nghịch yêu cầu khán giả nam ngồi hàng ghế đầu hãy … khép chân lại để anh khỏi bị phân tâm và tập trung vào bài ca!
“Một phần đó là phong cách do Tuấn Anh tự tạo và phần nữa từ sự dạy dỗ trong gia đình,” ca sĩ Tuấn Anh tâm sự với VietUSA News.

Nếu Tuấn Ngọc đã được bắt chước rất nhiều thì phong cách Tuấn Anh, cho đến nay vẫn chỉ có Tuấn Anh độc quyền, độc diễn. Nói đúng ra là khó copy.
Không chỉ hoạt động hoàn toàn độc lập, tự chọn bài, chọn nơi biểu diễn, chọn y phục lên sân khấu kể cả phần tự trang điểm, tự làm tóc … anh còn biên soạn cả lời dẫn cho phần trình bày của mình. MC mà gặp Tuấn Anh coi như mất job.


“Ngay từ khi bắt đầu lên sân khấu năm 1979 cho đến nay, Tuấn Anh không tùy thuộc vào bất cứ một trung tâm nào và cũng không tùy thuộc một bầu show nào. Con đường của Tuấn Anh đi thênh thang lộng gió,” anh nói, tự tin và thẳng thắn.

Là con út trong gia đình 12 anh chị, Tuấn Anh là sinh viên đại học khoa học ở Sài Gòn, và thường xuyên tham gia văn nghệ trong trường nhưng không bao giờ nghĩ sẽ trở thành ca sĩ, một cấm kỵ trong gia đình.
“Bố mẹ Tuấn Anh rất cổ - không bao giờ muốn con cái vô nghề xướng ca; Nên khi nghe người con út bỏ học để đi hát thì bố mẹ gần như từ bỏ không liên lạc trong năm sáu năm liền,” anh than trách thân phận.
Nhưng sân khấu đã trở thành nỗi đam mê không thể từ bỏ được với người ca sĩ cao 5.9” (1 mét 75), nặng 175 pounds (80 kí) có hình dáng của một người nam nhưng lại có những điệu bộ của một người … nữ, đến nay đã 24 năm.

Thế khán giả ái mộ nhìn Tuấn Anh như một nam hay một nữ ca sĩ?
Anh cười lớn tiếng và trả lời, chậm rãi:
“Một nam ca sĩ trong một phong cách nhẹ nhàng thanh thoát. Rất riêng, rất đặc biệt,” vừa nói anh vừa xòe năm ngón tay chải chuốt dẻo mềm, miệng cười túm tím, mắt đưa đẩy tình tứ, đầy nét duyên của một người nữ.
Nhưng anh lại nói tiếp rằng “tuy vậy vẫn không đánh mất cái đàn ông của mình,” anh chỉ vào hàm râu đen chạy đều đặn trên cặp môi có kẻ son nhạt.
Tuấn Anh nói rằng âm nhạc Việt Nam phải có một phong cách mới, và là điều anh cố gắng thực hiện hoài bão đó từ khi đến với khán giả khắp năm châu.
Từ Kiếp Đam Mê thủa ban đầu, người nghe vẫn tiếp tục yêu cầu Tuấn Anh Kiếp Đam Mê hôm nay cũng như Mười Năm Tình Cũ, Trái Tim Ngục Tù hay mới đây nhứt Bài Không Tên Cuối Cùng của Vũ Thành An.
Tuấn Anh đã đưa một sắc màu riêng biệt, một nét đặc trưng vào chất nhạc của các tác phẩm từng được nhiều người trình bày trước anh. Khán giả đã đón nhận nồng nhiệt nét độc đáo đó.
Tuy thành công ở mức cao nhứt như hiện nay, Tuấn Anh nhìn nhận rằng không phải mọi việc đều êm xuôi.
“Rất nhiều nước mắt đắng cay, rất nhiều những con sâu trong làng văn nghệ,” anh thổ lộ.
Anh không muốn nêu đích danh tên của những “con sâu” nhưng theo lời anh kể có những người liên quan đến ngành nghề chỉ hành động theo bản năng mà anh gọi là “kém nhân tính và phi nghệ thuật.”
“Nhiều người hiền hòa đã không nói ra hay không dám nói và đó là cơ hội để những con sâu tiếp tục lợi dụng công sức của họ. Và nơi nào cũng có.”
Vậy khán giả ái mộ Tuấn Anh nhiều nhứt là nam hay nữ? Anh tâm sự rằng trong buổi trình diễn, cả nam và nữ đều yêu thích nhưng riêng “phái nữ gần gũi nhiều hơn thân mật và vồn vã hơn, trong khi phái nam đến một cách trang trọng, lịch sự và cũng kín đáo hơn.”
Tuấn Anh nói rằng chuyện đắc ý nhứt kể từ khi làm nghệ sĩ là “đáp ứng được nhu cầu, vun bồi tình yêu thương của khán giả dành cho anh và ngược lại.”
“Được sống và vẫy vùng trong biển nghệ thuật một cách tự do tuyệt đối và sẵn sàng đương đầu với mọi nghịch cảnh,” là điều anh mong ước nếu có phải làm lại từ đầu, nhưng anh cũng tự nhận là “một lãng tử, một lữ hành cô độc trong vòm trời nghệ thuật.”
Anh cho biết sử dụng nước hoa hiệu Guerlain For Men và có vừa đủ các kiểu nhẫn, dây chuyền, kiếng mát, bông tai cùng nhiều thứ nữa để thích hợp với những bộ y phục trình diễn và cũng để “bày tỏ lòng thương yêu với khán giả.”
“Những tốn kém về phục sức của Tuấn Anh chỉ nhằm mục đích duy nhứt là biểu lộ sự tôn trọng khán giả, lúc nào cũng gọn gàng đẹp đẽ trước con mắt của người xem,” anh nói.


Ca sĩ Randy


Người ca sĩ mồ côi

Randy tên thật là Trần Quốc Tuấn, là con lai cha người Hoa Kỳ mẹ người Việt Nam, là 1 ca sĩ Nhạc vàng có giọng trầm buồn rất đặc trưng. lúc còn nhỏ thì sống ở cô nhi viện và được má nuôi xin về ở vùng Cẩm Hà, tuy nhiên, má nuôi của Randy lại rất là ngựơc đãi Randy. Khi có tin đồn những người con lai được đi Mỹ, bà má nuôi bán anh cho một gia đình khác với giá là 3 cây vàng, lúc đó là năm 1983, nhưng họ vẫn gửi anh ở lại với bà má nuôi. Đến năm 1989, vì bị hành hạ quá nhiều, nên anh xin về ở với gia đình người đã mua anh để mong có một cuộc sống khá hơn, nhưng theo Randy nói:

"Tên thật của em là Trần Quốc Tuấn, lúc em còn nhỏ thì sống ở cô nhi viện và được má nuôi xin về ở vùng Cẩm Hà, tuy nhiên, má nuôi em lại rất là ngựơc đãi em, cho nên em cảm thấy sống với má nuôi lại là một điều rất bất hạnh cho em.
Bà ấy xin em về để đi chăn bò, trồng khoai, cắt lúa, làm những công việc nặng nhọc ở trong nhà…Bà má nuôi em giống như một người ở đợ thôi, sự thương yêu hầu như không có… nên mỗi khi em có lầm lỗi gì thì bà ấy có những cử chỉ, những hành động đối xử với em không phải là người nữa…
Khi em bị bà ấy đánh đập quá thì em bỏ nhà đi, ra ruộng, đào những củ khoai hay ăn ổi Tây trừ cơm, và ngủ trong những miếu hoang, hay trong những mả voi, hay chuồng của những con bò, vì về nhà thì sợ bà ấy đánh nữa...


 Khi có tin đồn những người con lai được đi Mỹ, bà má nuôi bán anh cho một gia đình khác với giá là 3 cây vàng, lúc đó là năm 1983, nhưng họ vẫn gửi anh ở lại với bà má nuôi. Đến năm 1989, vì bị hành hạ quá nhiều, nên anh xin về ở với gia đình người đã mua anh để mong có một cuộc sống khá hơn, nhưng:
"Cũng giống hệt như bà má nuôi em mà thôi…vì họ thấy sốt ruột quá, mua em từ năm 1983 mà mãi đến 1989 vẫn chưa thấy gì hết…Cho đến 1990 thì em được qua Mỹ và đi cùng với gia đình đã mua em. Bước chân tới Mỹ một hai tuần thì đã có sự hắt hủi rồi…Khi em mới qua, em ăn rất nhiều, thì bà ghép form đi cùng mới nói là mày ăn nhiều vậy? Rủi tiền trợ cấp nó cúp thì lấy gì mà ăn.
Sau khi em nghe bà ấy nói vậy, em rất buồn và xin chia tiền trợ cấp, em có được 180 đồng, 100 để trả chỗ ngủ ở phòng khách và 80 còn lại để em xài một tháng, và cộng thêm được 40 đồng tiền food stamp."
Với số tiền ít ỏi mà Randy có được, ngoài giờ đi làm kiếm thêm, anh vẫn cố gắng đến trường mỗi ngày. Khi có dịp rảnh rỗi, anh đi chơi với bạn bè, hát karaoke. Được sự khuyến khích của bạn bè, anh tham gia cuộc thi hát Karaoke, anh kể lại:
"Lần thứ nhất em được giải an ủi, lần thứ hai em được giải nhất, ban giám khảo lúc bấy giờ gồm có nhạc sĩ Nguyễn Hiền, cố nhạc sĩ Thu Hồ, nam ca sĩ Anh Tuấn, với cuộc thi khoảng 60 người. Sau đó thì được cố nhạc sĩ Thu Hồ giới thiệu cho trung tâm Hải Âu…Từ đó, em mới bước vào ngành ca hát."
 Giọng hát từ xứ Hội An mang những u hoài nhưng đầy thiết tha…"Tên thật của em là Trần Quốc Tuấn, lúc em còn nhỏ thì sống ở cô nhi viện và được má nuôi xin về ở vùng Cẩm Hà..." Người Ghi Chép: Randy có thể cho biết, trong trường hợp nào, Randy bước vào lãnh vực ca hát?

Randy: Tôi đến Mỹ năm 1990, tiếp tục học trung học. Trong thời gian nghỉ hè, tôi đi chơi cùng mấy người bạn, họ hay rủ đi uống cà phê. Thời gian đó, karaoke đang rất là thịnh hành, tôi đi thi, có khoảng 80 người tham dự cuộc thi, tôi được giải an ủi. Lần thứ hai, cuộc thi karaoke cũng được tổ chức tại quán cà phê Văn, ở Dallas, tôi may mắn được trúng giải nhất. Tôi bắt đầu đi hát vào năm 1992. Ở Việt Nam, mình cũng hay hát nghêu ngao ở nhà, ngoài ngõ…


NGC: Thời ấu thơ của Randy như thế nào?

Randy: Tuổi thơ của tôi, sinh sống trong một môi trường không có được diễm phúc như những người khác cũng vì màu da của mình. Tôi sống ở một miền quê, nơi có tiếng là “chó ăn đá gà ăn muối”. Vùng đất Quảng Nam – Ðà Nẵng, từ Ðiện Bàn phải đi xa nữa mới tới Cẩm Hà, là quê của tôi. Cẩm Hà rất là nghèo, toàn là đất cát, khô cằn, “đất cày lên sỏi đá”. Từ nhỏ, tôi đã ước ao được trở thành ca sĩ, mang lời ca tiếng hát để dàn trải những tâm sự của mình. May mắn cho tôi là ông trời không phụ lòng của mình, tôi đã đến Mỹ, được đi hát, kể những câu chuyện của mình. Ði hát là một ước nguyện của tôi từ lúc nhỏ.

NGC: Cho đến hôm nay, Randy đã có được bao nhiêu CD?
Randy: Tôi không còn nhớ rõ lắm. Chỉ nhớ là, trong thời gian thâu băng cho trung tâm Hải Âu, album của riêng mình có khoảng 6 CD, hát chung với Mỹ Huyền 3 CD. Trung tâm Giáng Ngọc có phát hành CD hát chung với Tuấn Vũ, hát chung với Phượng Mai… Cũng khá nhiều, có lẽ hơn 10 CD. Khoảng từ năm 1998 trở lại đây, có trung tâm New Castle, trung tâm Mai Ngọc Khánh phát hành một số CD có tiếng hát Randy. Cuốn CD mới nhất do chính Randy thực hiện là Mẹ.

NGC: Nhìn vóc dáng Randy có phong cách của một người lực sĩ. Và trời lại cho một giọng hát, còn kỹ thuật tập luyện của Randy như thế nào?

Randy: Thần tượng của tôi là Chế Linh. Tôi học lối ngân của anh Chế Linh. Lối phát âm tròn chữ, rõ ràng tôi học của anh Vũ Khanh. Còn kỹ thuật, là từ anh Nguyễn Hưng. Còn lối hát cao vút, tôi học ở anh Elvis Phương. Tôi học từ mỗi người, một ít. Vào năm 1994, tôi có lấy một lớp nhạc lý căn bản tại trường Golden West. Tất cả những kỹ thuật, tôi học từ những kinh nghiệm, tôi không học từ trường lớp nhiều. Tôi có thể đọc được nhạc. Tất cả những bài hát mà tôi viết là do “play by ears”, tôi nghe từ những giai điệu, và liên tưởng rồi viết lại.

NGC: Randy có biết sử dụng một nhạc khí nào không?

Randy: Tôi không biết chơi một nhạc khí nào.

NGC: Trong các nhạc sĩ, Randy thích nhạc sĩ nào?

Randy: Tôi thích những bài hát của nhạc sĩ Lam Phương, Trúc Phương, Lê Minh Bằng. Những bản nhạc có tính kể lể.

NGC: Công việc hiện tại của Randy?

Randy: Lúc trước ở San Jose tôi làm về sales. Từ một tháng nay, dọn về Orange County, tôi chú tâm vào việc ra mắt CD Mẹ. Sau show nhạc này, công việc của tôi sẽ là ngành địa ốc.

NGC: Hiện nay trong ngành địa ốc, đã có rất nhiều nghệ sĩ đang hành nghề như Công Thành-Lynn, Trịnh Nam Sơn, Quốc Việt… Nếu Randy bước vào ngành địa ốc, Randy sẽ giới thiệu với khách căn phòng nào đầu tiên trong căn nhà?
Randy: Tôi nghĩ rằng một gia đình thường dành nhiều thời gian ở căn phòng khách. Nếu đưa một gia đình đi coi một căn nhà, tôi sẽ giới thiệu căn phòng khách đầu tiên và sau đó là bếp.

NGC: Nếu được chọn một trong hai công việc âm nhạc và địa ốc, Randy chọn bên nào?

Randy: Âm nhạc là điều tôi chọn.

NGC: Randy thích nhất điều gì ở người phụ nữ? Ghét nhất điều gì ở người phụ nữ? Và người phụ nữ thích Randy ở điểm nào?

Randy: Ðiều mà tôi thích nhất ở người phụ nữ là sự chịu đựng. Họ biết thông cảm để cho cuộc sống chung tốt đẹp hơn. Họ biết cảm thông, hiểu biết và tha thứ cho nhau ở những lỗi lầm, vì là người không ai hoàn hảo cả. Ðiều mà tôi ghét nhất ở người phụ nữ là hỗn. Tôi không thể chấp nhận được người phụ nữ nói năng thô lỗ, dùng bad words. Kiểu nói chuyện như thế rất là vô văn hóa. Một điểm yếu mà người phụ nữ không thích ở tôi đó là tôi quá vì bạn bè. Họ rất ghét tánh này của tôi vì tôi nghiêng về bạn bè quá đôi khi “quên” mất người yêu. Ðôi khi mình hay giúp bạn bè, mà người phụ nữ họ thường không thích điều này, họ muốn mình chú tâm vào gia đình nhiều hơn.

NGC: Món ăn nào Randy ưa thích nhất?

Randy: Mì quảng là món tôi thích nhất. Mình là dân Hội An xứ Quảng.

NGC: Nếu có được một điều ước, mà điều đó trở thành sự thật, Randy ước điều gì?

Randy: Tôi ước mong con người thương yêu nhau nhiều hơn. Khi gặp nhau tay bắt mặt mừng để cho đời sống thêm nhiều điều vui vẻ. Thêm bạn bớt thù, nên bỏ qua những xôn xao, xào xáo trong xã hội, cố gắng tạo niềm vui cho cuộc sống. Từ nhỏ đến lớn, tôi đã trải qua nhiều tủi nhục. Không hẳn là những người xung quanh muốn đối xử với tôi như vậy, cũng tại vì trong bối cảnh đó, hoàn cảnh đó, đã tạo nên cách hành xử của con người. Tôi cũng không hận thù, đau buồn nữa. Từ nhỏ tôi đã không có cha mẹ. Tôi sống trong cô nhi viện, được ba mẹ nuôi xin về nuôi nấng. Sau này, khi có chương trình ra đi con lai, mẹ nuôi tôi ở miền quê rất nghèo không có tiền để trang trải cho vấn đề giấy tờ nên đã để cho một người khác lo giấy tờ cho tôi đi. Vì thế, hiện nay, tôi chỉ ước được sống hạnh phúc với mọi người chung quanh.

Ca sĩ Randy

Tham khảo:
www.xuquang.com ,www.mautam.net , www.nhaccuatui.com , www.yeunhacvang.com , www.voanews.com ,www.xaluan.com ,


Ca Sĩ Băng Châu

 Vào đầu thập niên 70 tại Sài Gòn có sự xuất hiện của một khuôn mặt trẻ trung, còn mang dáng dấp một nữ sinh với những nét đẹp tươi sáng mà nhu mì, rạng rỡ nhưng vẫn còn phảng phất hương lúa ngọt ngào của miền Tây trù phú. Đó là nữ ca sĩ kiêm diễn viên điện ảnh và kịch nghệ, Băng Châu. Khi lên Sài Gòn thì Băng Châu đã bước chân vào một khúc quanh quan trọng cho cuộc đời của cô. Băng Châu được nhạc sĩ Châu Kỳ mời xuất hiện lần đầu tiên trong chương trình "Tiếng Thùy Dương" của ông với nhạc phẩm "Nhớ Nhau Hoài" của Anh Việt Thu. Và khi về với chương trình "Trường Sơn" của Duy Khánh thì mọi người đã nhắc nhở đến nhiều về sự xuất hiện mới mẻ này trong làng Tân Nhạc.

Qua đến năm 1971 thì tên tuổi của Băng Châu mới thật sự được nổi bật với nhạc phẩm "Qua Cơn Mê" của Trịnh Lâm Ngân. Băng Châu khởi nghiệp ca hát vào năm 1970, được các nhạc sĩ Châu Kỳ, Khánh Băng và nhất là Duy Khánh nâng đỡ. Cô cộng tác với ban nhạc Tiếng Thùy Dương của Châu Kỳ và ban nhạc Trường Sơn của Duy Khánh. Băng Châu có một khuôn mặt gợi cảm với sóng mũi cô hơi dài và thanh tú. Cặp môi cô đầy đặn, khi khép kín miệng thì cặp môi ấy đẹp hơn là lúc nở nụ cười. Giọng hát Băng Châu mềm mại ngọt ngào. Cô được cái ưu điểm là dàn trải làn hơi đâu ra đó. Tiếng hát của Băng Châu là tiếng hát buồn man mác của người cô phụ đêm đêm chong đèn ngồi bên song cửa nhìn bóng trăng tà ngoài song và đối diện với ngọn hàn đăng trong cô phòng.

Tiếng hát cô lúc buồn theo mùi hương nguyệt quí ngào ngạt tỏa ra chung quanh khuôn viên của căn nhà kia, từ lúc đèn đêm thắp sáng cho tới lúc cửa sổ khép kín và ánh đèn trong hương khuê phụt tắt. Đó là lúc hương cau, hương bưởi và hương dạ lý thay nhau lan tỏa trong sương khuya và trong những cơn gió mỏng hiu hiu. Những mùi hương ấy ở chốn cùng thôn tuyệt tái thì ngoài nàng ra không có ai thưởng thức chúng, cho nên đó cũng chỉ là những thứ hương bị quên lãng và bị nhốt chung một phận buồn như nàng. Ngay sau lần đầu xuất hiện trên truyền hình, khuôn mặt của Băng Châu đã lọt vào mắt đạo diễn Lê Dân và cô được mời đóng phim "Trần Thị Diễm Châu", Trước khi đưa quyển “Châu Kool” của nhà văn Duyên Anh lên màn bạc, Đạo diễn Lê Dân đã đi lùng trong hàng ngũ các nữ nghệ sĩ cải lương, các nữ minh tinh màn bạc, các nữ ca sĩ để tìm một cô có vóc dáng và nhân diện có thể đóng vai từ một thiếu nữ ngây thơ, đến một người đàn bà bụi đời được thể hiện qua nữ nhân vật Trần Thị Diễm Châu có cái hổn danh là Châu Kool (vì ưa hút thuốc lá Kool). Ông gặp được Băng Châu. Cô là hiện thân pha trộn của ba mẫu người đàn bà khác nhau. Khi đóng vai Diễm Châu nữ sinh, cô có vẻ ngây thơ trong sáng và hành xử rất hồn nhiên. Khi đóng vai Diễm Châu thiếu phụ đa tình, cô thể hiện được mẫu người tình tứ thập phần gợi cảm. Khi đóng vai Diễm Châu nữ chúa trong làng dao búa cô thể hiện được vẻ dữ dằn sắt đá.

Cuốn phim “Trần Thị Diễm Châu” vừa khi trình chiếu ở Sài Gòn thì tên tuổi của Băng Châu đã trở nên quen thuộc. Sau đó, cô được mời xuất hiện trong nhiều cuốn phim khác như "Trường Tôi", "Bốn Thủy thủ Sợ Ma", "Năm Vua Hề Về Làng"... Và từ đó, tên tuổi Băng châu lại nổi bật thêm trong lĩnh vực điện ảnh. Sau năm 1975, điện ảnh cách mạng đã góp phần tạo được dấu ấn thật xuất sắc qua những vai diễn đa dạng trong các bộ phim: Mối Tình Đầu (diễn cùng Thế Anh, Như Quỳnh…), Giữa Hai Làng Nước( diễn cùng Nguyễn Chánh Tín)…Băng Châu vẫn tham gia ca hát, diễn kịch, cô là một ca sĩ duyên dáng của đòan kịch nói Bông Hồng, nghe Băng Châu hát “Cuộc đời vẫn đẹp sao” rất ấn tượng và khả ái. Băng Châu đến Mỹ và cư ngụ ở Utah trong ba tháng sau đó về cư ngụ tại Nam Cali cho đến nay. Cô đã từng theo học ngành điện toán trong 3 năm trước đây vì cô không nghĩ rằng mình sẽ tiếp tục cuộc đời ca hát ở hải ngoại. Ra hải ngoại, Băng Châu cũng vẫn hoạt động nghệ thuật trình diễn. Cô đã cộng tác với các trung tâm băng nhạc như Thanh Lan, Thúy Anh, Làng Văn. Ba cuốn băng nhạc của trung tâm Hạ Trắng dành riêng cho cô là “Lời Này Cho Anh”, “Lời Cho Người Tình Xa” và “Em”. Cô còn cộng tác với trung tâm băng hình Hải Đăng qua vở hài kịch “Share Phòng Lộn - Share Tình Lầm” của Nguyễn Minh Phương với Mai Lệ Huyền, Kim Xuyên Lan, Lucie Hương, Văn Chung, Hương Huyền, Linh Tuấn, Bảo Hiền. Trong vở kịch này cô cắt tóc theo kiểu demi-garcon nên khuôn mặt cô hơi dài. Tuy nhiên cô mặc chiếc robe rất đẹp, ôm sát nách thân hình tươi mát và thon gọn của cô. Áo có phần trên hở ức, hở nách như áo chấn thủ, phần dưới có xẻ ở ống chân. Qua chiếc áo ấy, cô gieo cho khán thính giả cảm giác mát rượi dù nó chỉ có màu chàm đậm nổi những vạch trắng nằm ngang.

Hiện nay, Băng Châu vẫn tham gia họat động văn nghệ, cô thu băng, làm đài phát thanh, đóng kịch cho một số băng video và vẫn được những trung tâm mời cộng tác

Nguồn :
forum.tkaraoke.com,amnhacviet.net ,yeunhacvang.com/forums ,dienanh.net ,nhaccuatui.com , quannhacvang.com ,tieulam.com , cailuongvietnam.com

Ban Nhạc AVT


 AVT là tên của một ban tam ca trào phúng đã đi vào lịch sử âm nhạc Việt Nam với tính chất châm biếm và hài hước, nhiều khi xen lẫn với một sự mỉa mai của nó.
Nhắc đến AVT, chắc chắn phải nhắc đến người được coi là linh hồn của ban tam ca này là nhạc sĩ lão thành Lữ Liên mặc dù ông không phải là người thành lập ra ban tam ca này

Năm 1958, trong danh sách công tác của Tiểu Đoàn 1 Chiến Tranh Chính Trị có một ban tam ca do 3 anh tân binh mới nhập ngũ tên Anh Linh, Vân Sơn và Tuấn Đăng chuyên trình bầy những bản nhạc vui nhộn. Họ lấy 3 chữ đầu của tên mình để ghép lại thành AVT để đặt tên ban. Người đứng ra thành lập ban AVT chính là nhạc sĩ Anh Linh mà không phải là nhạc sĩ Lữ Liên như không ít người lầm tưởng..

Anh Linh là một người có căn bản nhạc lý vững vàng nên từng có thời gian được cử thay thế giáo sư âm nhạc Phạm Nghệ làm trưởng ban Ca của Đại Đội Văn Nghệ Trung Ương, tức Biệt Đòan Văn Nghệ Trung Ương sau đó. Ông đã sáng tác được khoảng 20 bài, trong đó có một số bài phổ ttừ thơ của thi sĩ Hà Thượng Nhân và Nhất Tuấn (tác giả thi tập nổi tiếng trong thập niên 60 “Chuyện Chúng Minh”).

Một trong những ca khúc đắc ý nhất của ông là “Niềm Tin”, thường được nhiều ca sĩ trình bầy trong dịp Giáng Sinh. Ca khúc đầu tay của Anh Linh là bài “Sao Em Không Đi”, viết trước khi nhạc sĩ Anh Bằng, cùng trong Đại Đội Văn Nghệ Trung Ương của Tiểu Đoàn 1 Chiến Tranh Tâm Lý, tung ra nhạc phẩm “Nếu Vắng Anh”. Nhưng vì nhạc của Anh Linh có phần ủy mị nên không được bộ thông tin chấp thuận ngay.

Trái lại, “Nếu Vắng Anh” thì trót lọt kiểm duyệt vì lời ca, điệu nhạc rất tình cảm nhưng không mềm yếu. Nhạc phẩm này đã trở thành Top Hit sau đó. Bù lại, Anh Linh được an ủi là có một số bài như Chiến Thắng Rừng Sát, Thiên Thần Mũ Đỏ, Chiến Thắng Kon Tum đã được rất nhiều anh em binh sĩ tán thưởng.

Việc hình thành tên ban tam ca AVT đã được nhạc sĩ Anh Linh kể lại với những chi tiết lý thú đến từ một sự tình cờ. Khởi thủy, ban tam ca sau này được gọi là AVT gồm có 3 người là Anh Linh, Tuấn Đăng và Vân Sơn thường được giới thiệu mỗi khi xuất hiện trên sân khấu là Tam Ca Anh Linh, Vân Sơn và Tuấn Đăng. 3 người đều hát thường trực ở phòng trà Anh Vũ với những tiết mục vui nhộn của họ.

Một hôm, ban giám đốc thuê người kẻ một tấm biểu ngữ rất lớn để giăng ngang đường Trần Hưng Đạo, gần phòng trà Anh Vũ trên đường Bùi Viện nhằm giới thiệu bộ 3 này mà họ muốn gọi là ban Kích Động Nhạc Anh Vũ. Đúng vào lúc những người kẻ chữ vừa viết xong hai chữ A và V mầu đỏ và chữ NH mầu xanh thì Anh Linh tình cờ đi tới.
Anh hỏi thì được biết họ viết chữ ANH VŨ. Anh Linh nói ngay là ban tam ca của anh không phải tên là Anh Vũ như ban giám đốc đã thuê họ viết. Nhưng thấy mấy người thợ đã lỡ viết như vậy nên chợt nhớ ra ban kích động nhạc của mình đã có sẵn tên Anh Linh, Vân Sơn nên bảo viết thêm chữ T ( chữ đầu của tên Tuấn Đăng ) và bỏ 2 chữ NH kia đi. Vì thế nên có tên AVT.

Trong thời gian AVT hát nhạc ngọai quốc ở phòng trà Anh Vũ, họ luôn được khán giả yếu cầu hát nhiều lần nên chủ phòng trà thêm cho AVT một danh hiệu nữa là ban AVT Đăng-Linh-Sơn khi được giới thiệu. Nhưng MC lại cố ý đọc là “AVT Darlingson” cho khán giả ngọai quốc dễ hiểu!
Tiền thù lao cho AVT sau đó đã phá kỷ lục khi họ được trả đến 1000 đồng một người, trong khi “cát sê” trả cho quái kiệt Trần Văn Trạch chỉ có 700! Vì AVT có lần được khán giả yêu cầu “bis” đến 7 lần. Ba người vừa vào hậu trường thay áo đi về thì lại phải mặc vào để ra trình diễn thêm trong khi khán giả giả tiếp tục hò hét vang rền! Đó thật là một kỷ niệm nhớ đời cho Anh Linh, Vân Sơn và Tuấn Đăng.

Giọng ca của 3 thành viên AVT này rất đều. Họ có thể lên cao tới “nốt” Sol cao và xuống đến Sol thấp. Theo nhận xét của nhạc sĩ Lữ Liên thì giọng của Vân Sơn trội hơn cả so với 2 người khác trong ban. Hình ảnh đặc biệt của AVT là lúc trình diễn họ đều mặc quốc phục với khăn đóng, áo dài và tự đàn lấy để hát.
Trước khi chuyển qua sử dụng những nhạc khí dân tộc thì Anh Linh chơi guitar, Vân Sơn chơi trống và Tuấn Đăng sử dụng contre-bass. Những tiết mục linh động và tươi vui của AVT thật sự đã mang lại cho sinh hoạt phòng trà thời đó thêm rất nhiều sống động.

Qua đầu thập niên 60, vào lúc AVT cần những sáng tác mới để trình bầy, nhạc sĩ Lữ Liên có ý định thử nghiệm khi muốn hướng phần trình diễn của AVT về một thể loại mới lạ. Ông đã trích một đọan trong bản Thất Nghiệp Ca của ông (sáng tác cho Đòan Văn Nghệ Vịet Nam) đặt tên là Tam Nghiệp, mô tả 3 chàng Thợ Nhuộm, Thợ Sửa Khóa và Thầy Bói để AVT thực nghiệm vào dịp Tất Niên trong một chương trình văn nghệ do quân đội tổ chức tại rạp Tống Nhất. Chương trình này có mục đích ủy lạo các chiến sĩ xuất sắc khắp 4 vùng chiến thuật trở về tham dự, dưới sự chủ tọa của tổng thống Ngô Đình Diệm cùng nhiều tướng lãnh cao cấp khác.
Nhưng sắp đến ngày ra mắt thì thình lình có giấy gọi Anh Linh theo học khóa sĩ quan vào năm 1962. Lập tức Hoàng Hải được đưa vào tập dượt để thay thế. Sau này khi Lữ Liên gia nhập AVT, nhạc phẩm Tam Nghiệp có được sửa đổi đôi chút với những nghề Thợ Sửa Xe Máy (do Lữ Liên diễn tả), nghề Tẩm Quất với Vân Sơn và Tuấn Đăng với nghề thợ mộc.

Với bài Tam Nghiệp gốc, một sáng tác của Lữ Liên, trích từ tác phẩm Thất Nghiệp Ca của ông, lần đầu tiên khán giả được thưởng thức một nhạc phẩm trào phúng với những âm điệu cổ truyền cùng những lời ca dí dỏm và nghệ thuật trình diễn sống động. Tất cả những khán giả hôm đó, phần lớn là anh em binh sĩ, được dịp cười hả hê. Nhất là lúc Vân Sơn hứng lên múa trống, tung dùi và Tuấn Đăng nhảy lên cây “Contre-basse” để solo theo nhịp kích động khiến khán giả cổ võ muốn sập rạp.
Và kể từ đó AVT bắt đầu bước vào một khúc quanh quan trọng với phần trình bầy những nhạc phẩm trào phúng, sát với đời sống thường ngày trong xã hội. Với sự tán thưởng nồng nhiệt của khán giả. Sau thời gian này, Lữ Liên lại đặt cho AVT một số bài mới như Ông Nội Trợ, Trắng Đen, Dậy Thì, vv… Tất cả những nhạc phẩm này đã khiến tên tuổi AVT càng này càng lên cao

Ngoài những sáng tác của nhạc sĩ Lữ Liên, nhạc sĩ Anh Bằng cũng sáng tác cho ban tam ca này một nhạc phẩm nổi tiếng khác có tựa đề là Huynh Đệ Chi Binh, thêm vào đó là một sáng tác của Duy Nhượng là bài Ai Lên Xe Bus…

Từ đó, ban AVT đã trở thành một tam ca nhạc đắt giá tại các phòng trà ca nhạc và vũ trường cũng như các Đại Nhạc Hôi cùng các đài Phát thanh và Truyền Hình. Nói cho đúng, AVT đã trở thành một hiện tượng trong sinh họat ca nhạc tại Việt Nam với một khuynh hướng thể hiện chưa từng có trước đó. Như vậy có thể khẳng định là AVT đã giữ vai trò độc tôn bằng hình thức tam ca trào phúng. Một thời gian sau, một vài kết hợp dưới hình thức tương tự cũng được ra đời, nhưng không có khả năng thu hút người nghe như AVT, nên đã không tồn tại được bao lâu.

Sau những bài hát trào phúng được nhắc tới ở trên là đến một lọat những bài khác được nhạc sĩ Lữ Liên sáng tác cho ban AVT trình bầy như Ba Bà Mẹ Chồng, Cờ Người, Em Tập Vespa, vv… Đó là những nhạc phẩm đã lót đường cho ban AVT thăng tiến rất nhanh. Ngoài những lời lẽ châm biếm trong những bài hát trước đó, người nghe còn cảm thấy rất thích tú với những bài hát được Lữ Liên sáng tác với hình thức lời thanh mà ý tục, tương tự những thi phẩm nữ sĩ Hồ Xuân Hương, trong đó có tác phẩm Cờ Người đã được phổ nhạc hoàn toàn mang chất AVT độc đáo…

Trong khoảng thời gian từ 60 đến 64, AVT đã được 2 hãng đĩa Sóng Nhạc và Việt Nam mời thu đến 20 đĩa nhạc và băng nhạc. Và AVT còn nhận lời trình diễn cho các phòng trà ca nhạc và vũ trường lớn ở Sài Gòn như Queen Bee, Quốc Tế, Bồng Lai, vv…

Vào năm 1965, nhạc sĩ Hoàng Hải được lệnh giải ngũ. Hoàng Hải với tên thật là Lưu Duyên, là anh của cố chuẩn tướng Lưu Kim Cương, sau đó sang làm cho đài VOF tức Tiếng Nói tự Do. Nhạc sĩ Lữ Liên được mời vào thay thế và trở thành trưởng ban AVT từ đó. Cùng một lúc ông còn là trưởng ban kịch của Biệt Đòan Văn Nghệ Trung Ương. Với các nghệ sĩ : Hoàng Năm, Đỗ Lệnh Trường, Xuân Phúc, Bích Huyền, Cẩm Thúy, Thúy Liệu, Lệ Sửu, v.v…

Sau khi nhận lời trở thành một thành viên của AVT, lúc đó măc dù trong ban không còn ai mang tên có chữ có A ở đầu, nhưng Lữ Liên vẫn giữ nguyên cái tên AVT. Vì ông cho rằng tên đó đã đi sâu vào tâm hồn quần chúng. Nhưng ông đã đưa ra một vài đề nghị với một số thay đổi. Thứ nhất, với vai trò trưởng ban ông đổi danh xưng chính thức cho AVT là “Ban Tam Ca Trào Phúng AVT”, thay vì Ban Kích Động Nhạc AVT.

Ngoài ra, còn có thêm một sự thay đổi quan trọng khác là loại bỏ 3 nhạc khí Tây Phương để chỉ sử dụng những nhạc khí cổ truyền Việt Nam. Từ đó Vân Sơn chơi Tỳ Bà, Tuấn Đăng chơi đàn đoản và Lữ Liên sử dụng đàn nhị tức đàn cò.

Tới khoảng thời gian 1966-67, chính phủ Việt Nam theo đuổi chương trình trao đổi văn hóa với các nước Á Châu, AVT với thành phần trên đã theo Đoàn Văn Nghệ Việt Nam của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ di trình diễn tại rất nhiều quốc gia như Lào, Cao Miên, Phi Luật Tân, Thái Lan, Tân Gia Ba, Mã Lai, Nhật Bản, vv…

Sang đến năm 1968 thì “Ban Tam Ca Trào Phúng AVT” đi vào một thời kỳ có thể gọi là cực thịnh với những chuyến lưu diễn tại rất nhiều quốc gia Âu Châu.
Theo lời yêu cầu của các đồng bào Việt Nam tại Pháp, chính phủ Việt Nam đã gửi một phái đoàn văn nghệ hùng hậu gồm đầy đủ các bộ môn thi, ca, vũ, nhạc, kịch, vv… dưới sự dìu dắt của nhạc sĩ Hoàng thi Thơ cùng các vũ sư Lưu Hồng và Trịnh Toàn sang Âu Châu trình diễn lần thứ nhất.

Lần ra mắt ở rạp Maubert Mutualité Paris, Lữ Liên đã sáng tác một số bài dành riêng cho AVT như Chúc Xuân, Vòng Quanh Chợ Tết, Tiên Sài Gòn, Gái Trai Thời Đại, Lịch Sử Mái Tóc Huyền, Mảnh Bằng, 3 Ông Bố Vợ, vv… để trình diễn trước một số khán giả kỷ lục. Còn một số đông khán giả phải đứng ở ngoài vì hết chỗ.

Trong lần ra mắt đáng ghi nhớ đó, AVT mặc sức vẫy vùng. Mỗi câu hát là một chuỗi cười và tiếng vỗ tay vang dội. Giữa mỗi bài hát đều có phần solo nhạc. Tiếng nhạc khí Việt Nam thánh thót, véo von như chim hót khiến khán giả im lặng cơ hồ như nín thở để thưởng thức. Đến phần kết thúc mỗi bài hát thì tiếng vỗ tay vang lên như sấm động. Nhất là trong tiết mục AVT trình tấu cũng bằng Tỳ Bà, Nhị Huyền và Đàn Đỏan hai nhạc khúc bất tử của Johan Strauss là Le Beau Danube Bleu và Les Flots Du Danube. Khán gỉa đã vỗ tay không ngừng khi chấm dứt. AVT phải dắt tay nhau ra cám ơn khán giả 3 lần! Vãn hát, khán giả đã tràn lên sân khấu vây quanh các nhạc sĩ để khen ngợi. Nhất là các khán giả người địa phương muốn xem tận mắt từng cây đàn của AVT đã sử dụng.

Lần trình diễn đó của AVT đã gây chấn động cả Paris. Đi đến đâu người ta cũng nhắc tới AVT. Đó có thể coi như thời kỳ huy hoàng nhất của ban ta ca trào phúng này. Sau đêm trình diễn ở rạp Maubert và sau khi nghỉ một ngày, bộ ba Lữ Liên, Vân Sơn và Tuấn Đăng sang diễn một xuất ở Thụy Sĩ và một xuất ở Luân Đôn. Sau đó họ lại về Pháp để trình diễn một xuất ở dưới miền nam.

Rồi sau đó, phái đoàn lại tiếp tục đi trình diễn tại Maroc, Algérie, Tunisie, vv… Nơi nào họ cũng gặt hái được những thành công rực rỡ trước khi trở về Việt Nam. Đó là chưa kể AVT còn có dịp sang trình diễn tận nước Cộng Hòa Trung Phi trong thời kỳ lãnh đạo của tổng thống Bokassa.

Qua năm 1969, lại một lần nữa thể theo lời mời của Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam tại Pháp, chính phủ Việt Nam lại cử một đoàn văn nghệ gồm AVT với Lữ Liên, Vân Sơn, Tuấn Đăng cùng 2 nữ ca sĩ Hoàng Oanh và Hà Thanh, vợ chồng nhạc sĩ cổ nhạc Vĩnh Phan, nhạc sĩ Huỳnh Anh và cây sáo Nguyễn Đình Nghĩa sang quốc gia này. Một chương trình dài 2 tiếng gồm đủ mọi tiết mục được dàn dựng để trình diễn ở tất cả những địa điểm mà anh chị em sinh viên ở Parius tổ chức trong những ngày cuối năm. Chuyến lưu diễn này kéo dài 1 tháng với một thành công rực rỡ.

Ngoài những lần trình diễn chung với 2 nhạc sĩ khác trong AVT, hình ảnh nhạc sĩ Lữ Liên còn ghi đậm nét trong trí nhớ mọi người khi ông cùng nhạc sĩ Hoàng Thi Thao đồng diễn tiết mục “Cò Tây-Cò Ta”, được coi là một tiết mục rất ăn khách vào thời đó, cũng như sau này tại hải ngọai. “Cò Tây-Cò Ta” cũng đã được thu hình trong một chương trình Paris By Night cách đây vài năm, gây được nbhiều thích thú cho khán thính giả.

Sau năm 1975 Lữ Liên may mắn được tầu Mỹ cứu thoát sang định cư tại Mỹ. Vân Sơn và Tuấn Đăng bị kẹt lại. Vân Sơn đã tự vẫn trên giòng sông Thị Nghè. Còn Tuấn Đăng vì nặng nợ gia đình nên vẫn còn sống ở Sài Gòn

Tại hải ngoại, ban AVT Hải Ngoại với Lữ Liên, Vũ Huyến, Ngọc Bích (năm 1977, Trương Duy thay thế Ngọc Bích) tiếp tục truyền thống trào phúng, vui nhộn của AVT chính tông và bắt đầu cùng các anh chị em nghệ sĩ trình diễn khắp nơi từ năm 1976 cho đến năm 1987...

Nguồn :
webvkal.com , aitubinhdien.aimoo.com ,chutluulai.net/forums , sonomavietnamese.com , lungtung.com , nhaccuatui.com , forums.thuyngaonline.com , vietstamp.net

Ca Sĩ Anh Ngọc


Ca sĩ Anh Ngọc tên thật là Từ Ngọc Toản, sinh năm 1925 tại Hà Đông. Ông trưởng thành tại Hà Nội và từng theo học các trường Thăng Long, Puginier và Louis Pasteur ở đây. Khi còn rất trẻ, ông đã yêu thích ca hát mặc dù sinh trưởng trong một gia đình rất cổ...

Trong số 8 người con trong gia đình gồm 1 chị và 7 anh em trai, chỉ có ông và người em là Từ Ngọc Long (hiện đã mất ở Việt Nam) đi theo con đường văn nghệ và trở thành những ca sĩ tên tuổi. Riêng Anh Ngọc có thời gian theo học nhạc lý với nhạc sĩ Tạ Phước và đàn với nhạc sĩ Nguyễn Thiện Tơ và tình cờ bước vào con đường ca hát, khởi đầu từ những năm sau Đệ Nhị Thế Chiến.

Năm 1947, ông vào Huế thăm một người anh làm việc ở đây và lưu lại Huế hơn 1 năm. Trong thời gian này ông được nữ ca sĩ Minh Trang mời hát trên đài phát thanh Huế.

Năm 1949 Anh Ngọc vào Sài Gòn để khởi đầu cộng tác với đài phát thanh Pháp Á. Sau đó, ông lần lượt được mời hát trong chương trình ca nhạc của các đài phát thanh Quân Đội, Đài phát thanh Sài Gòn, đài Mẹ Việt Nam, Đài Tiếng Nói Tự Do và Đài Truyền Hình Việt Nam.

Với đài Sài Gòn, ông còn giữ vai trò xướng ngôn viên, cùng một lúc phụ trách một chương trình ca nhạc lấy tên là “Tiếng Nhạc Tâm Tình” từ đầu thập niên 60 cho đến biến cố tháng Tư năm 75. “Tiếng Nhạc Tâm Tình”, từng được nhà văn Mai Thảo nhận xét là “Một chương trình được yêu mến, đợi chờ và tán thưởng nhất trong nhiều năm”, được sự cộng tác của các giọng ca sáng chói của nền tân nhạc Việt Nam ở trong thời kỳ vàng son như Thái Thanh, Kim Tước, Mai Hương, Hà Thanh, vv...cùng sự phụ hoạ của một ban nhạc đàn dây gồm những nhạc sĩ tên tuổi.

Một số những nhạc phẩm ghi âm trong thời gian này đã được Anh Ngọc phục hồi bằng kỹ thuật digital để đưa vào 2 CD do ông thực hiện là Trở Về Dĩ Vãng và Một Thời Để Nhớ.

Đến năm 1954, sau khi hiệp định Geneve ký kết, với làn sóng di cư ồ ạt vào Nam, phong trào tân nhạc ở miền Nam có một sự bùng phát rất mạnh. Có thể coi đó là thời kỳ vàng son của nền tân nhạc. Cùng thời kỳ này có những chương trình phụ diễn tân nhạc tại các rạp chiếu bóng cùng những đại nhạc hội mà Anh Ngọc có một thời gian đứng ra tổ chức với số khán giả tham dự rất đông đảo.

Và cũng từ đó trở đi, tiếng hát của Anh Ngọc đã trở thành một trong những tiếng hát được ưa thích nhất do “Ngoài việc truyền đạt lời hát một cách rõ ràng và chuẩn xác, còn sử dụng cách luyến láy cũng như phân đoạn câu hát để nói lên ý nghĩa của bài hát, hay nói đúng hơn là những ý nghĩa chứa đựng trong bài hát”, như nhận định của nhà khảo cứu âm nhạc người Mỹ, Jason Gibbs, cũng là một quản thủ thư viện ở San Francisco.

Mặc dù được mọi người công nhận là một danh ca, nhưng điều không ai ngờ ca hát không phải là nghề chính của Anh Ngọc, như ông cho biết: “Thực ra ca nhạc đâu phải là nghề của tôi. Nhiều người không biết đến chuyện đó, nên cho là tôi suốt đời hoạt động ca nhạc. Nhưng thực ra không phải. Điều đó người ta không nghĩ ra, tôi cũng không muốn nói đến. Thực ra tôi không phải là một người ca sĩ nhà nghề, đi hát chỉ là chuyện phụ thêm thôi”.

Tuy không coi ca hát như phương tiện sinh sống, nhưng ông lại được nhiều nhạc sĩ nổi danh, trong số có Vũ Thành và Phạm Đình Chương, đánh giá là một giọng hát rất nhà nghề. Công việc chính của Anh Ngọc từ sau khi vào Sài Gòn là nhân viên của Sở Thông Tin Hoa Kỳ, từ năm 49 cho đến khi ông được gọi động viên vào đầu thập niên 1960.

Trong thời gian quân ngũ, Anh Ngọc phục vụ trong ngành Chiến tranh tâm lý, trong vai trò xướng ngôn viên tại Đài Phát thanh Quân Đội. Sau khi giải ngũ, ông làm việc cho đài Tiếng Nói Tự Do, vừa là xướng ngôn viên, vừa tham gia những chương trình ca nhạc phát thanh.

Sau biến cố tháng 4 năm 1975, ông kẹt lại Việt Nam và không tham gia vào bất cứ sinh hoạt ca nhạc nào mặc dù nhiều lần được nhắc nhở.

Năm 1990, Anh Ngọc sang Mỹ theo diện đoàn tụ. Ba năm đầu ông cư ngụ ở Quận Cam. Từ năm 1993, ông cùng gia đình về cư ngụ tại thành phố Burke, tiêu bang Virginia cho đến nay. Tại đây ông không tham gia vào những sinh hoạt văn nghệ mặc dù nhận được rất nhiều lời mời vì không muốn được nhắc nhở nhiều.

Nhưng ngược lại, thỉnh thoảng ông vẫn nhận lời xuất hiện trong những chương trình tổ chức tại các tiểu bang khác. Tuy nhiên, một khi nhận lời ông đã cân nhắc rất kỹ lưỡng: “Với những chương trình họ mời tôi, tôi phải xem như thế nào, coi chương trình tôi có thích hay không. Thí dụ như những buổi trình đầu năm nay được họ tổ chức ở những địa điểm rất là sang trọng. Điều thứ hai là ban nhạc rất lớn, ban nhạc thính phòng chừng hai ba chục cái đàn. Ba nữa, thí dụ những nhạc phẩm phải là những nhạc phẩm chọn lọc, những loại nhạc thính phòng tiền chiến chẳng hạn vì nó thích hợp với tôi thì tôi mới nhận lời. Chứ không phải bất cứ buổi hát nào cũng nhận lời’.

Trong khung cảnh êm đềm nơi ông cư ngụ, Anh Ngọc hiện chỉ biết tìm vui trong cuộc sống gia đình, bỏ lại sau lưng những hoạt động ca nhạc mà ông đeo đuổi trên 50 năm qua, mặc dù chưa bao giờ nhận mình là một ca sĩ nhà nghề...

Thêm vào đó ông vẫn tỏ ra say mê với thú giải trí là nhiếp ảnh và du lịch đó đây. Cách đây không lâu vào thứ Năm hàng tuần, Anh Ngọc vẫn thường sinh hoạt với một số bạn hữu gồm những người bạn nhạc sĩ thân thiết như Nguyễn Túc, Nhật Bằng, Văn Phụng, vv...trong nhóm được gọi bằng một cái tên thân mật là “Club Du Jeudi”, do cố nhạc sĩ Văn Phụng đặt, “Nhưng bây giờ thì anh Phụng anh ấy mất rồi. Còn Nhật Bằng là người thứ Năm nào cũng đến cũng mới mất. Nó cứ thưa dần đi... Hồi này tôi cũng lười đi lắm. Hai nữa gần đây có cháu ngoại thành ra tôi phải trông nó để cho cháu nó đi làm thành ra cũng bận”.

Giờ đây, Anh Ngọc đã quay lưng lại với sân khấu, với ánh đèn màu trong một tâm trạng bình yên, không chút ưu tư khi nghĩ đến lúc bỏ lại một thời để nhớ và một đời ca hát của ông: “Bây giờ trời cho mình sống đến đâu, mình biết như vậy thôi, đừng đòi hỏi nhiều gì cả, thế thôi”. Ông còn nhấn mạnh về quan niệm của mình về cái chết một cách thản nhiên, nếu không muốn nói là sẵn sàng chấp nhận, vì đối với ông, sống được đến 80 tuổi đã là một sự ưu đãi của Thượng Đế:” Chết thì ai chả chết. Việc gì phải sợ chuyện đó. Đó là chuyện đương nhiên rồi. Không có ai có thể tồn tại mãi được. Còn cái chuyện chết thì mình coi như là đi về thôi chứ có gì đâu. Tại sao lại phải sợ cái chuyện đó? Ai sợ cũng không được nữa ! Khi nào cái chết nó đến thì anh cứ chấp nhận cái chuyện đó, thế thôi!.”

Dù Anh Ngọc đã giã từ sân khấu ngoài đời, nhưng trên sân khấu tình cảm của những người yêu nhạc là tâm hồn và trái tim, hình ảnh nhiều phong độ của một tài tử, như ông từng được báo chí Sài Gòn đề cập tới cùng với một tiếng hát có đầy đủ những yếu tố cần thiết nhất sẽ khó có thể phai mờ với thời gian...

Anh Ngọc - Giọng hát trượng phu

Từ xưa, Quỳnh Giao vẫn luôn có một ý thích chủ quan, là giọng đàn ông phải đầy nam tính, nghĩa là hát mạnh, trầm ấm... và đừng quá điệu; còn giọng đàn bà thì phải thật trong trẻo, ngọt ngào, đừng ồm ồm và... cứng cỏi.

Nếu có phải viết về một giọng nam của nền tân nhạc Việt, người đầu tiên mà Quỳnh Giao nghĩ đến, chính là danh ca Anh Ngọc. Lý do trước tiên chính là giọng hát thật “đàn ông” của ông. Nhắm mắt lại mà nghe cho kỹ, chúng ta tưởng tượng Anh Ngọc là một giọng ca... không đỏm dáng để làm đẹp lòng đàn bà. Lại lãng mạn một chút mà ưa truyện Kim Dung, chúng ta có thể tưởng tưởng ra... Kiều Phong trong tiếng hát Anh Ngọc.

Hình bóng trượng phu, lẫm liệt mà cô đơn... đấy là Kiều Phong. Cao lớn sừng sững như cây trụ chống trời... đấy cũng là tiếng hát Anh Ngọc.

Năm nay, với tuổi bát tuần, Anh Ngọc đã thuộc hàng “lão trượng” rồi. Quỳnh Giao gọi ông bằng chú, đã từng hát trong ban “Tiếng Nhạc Tâm Tình” của ông thời còn rất trẻ, luôn luôn là người trẻ nhất trong ban. Thế mà mấy chục năm sau, khi còn ở miền Ðông, Quỳnh Giao lại cùng tiêu khiển thú vui tao nhã là mạt chược tại nhà ông, cho nên xin viết về tiếng hát Anh Ngọc với lòng tri ân của thế hệ hậu sinh.

Còn nhớ năm ngoái được mời qua Canada lạnh giá vào dịp Nguyên Ðán với nhạc sĩ Tuấn Khanh để làm giám khảo cho một cuộc thi hát. Ông Tuấn Khanh và Quỳnh Giao đồng ý đặt ra năm tiêu chuẩn chấm điểm: chất giọng, làn hơi, kỹ thuật, tình cảm, và sau cùng là nhân dáng. Vậy thì điểm đầu tiên là chất giọng.

Anh Ngọc là người được trời thương, ông có giọng ca thiên phú.

Tiếng hát ông rất mạnh, sang sảng. Ông lên tới những nốt rất cao mà không mỏng, xuống được những nốt trầm mà vẫn dầy, vẫn rõ. Khoảng cách của các nốt nhạc được ông xướng lên đồng đều, không lép mà chắc nịch. Phải nói đến chuyện trời cho ấy vì ngày nay nhờ kỹ thuật âm thanh ai cũng có thể tự nghĩ rằng mình có giọng ca thiên phú.

Anh Ngọc có làn hơi phong phú. Ông là một trong số ca sĩ hiếm hoi của Việt Nam vẫn giữ được trường độ của một câu nhạc rất dài. Từ chuyện thiên phú phải nói đến chuyện nhân tài: ông hiểu nội dung ca khúc và cách diễn tả. Nói một cách khác ông rất thông minh và nắm được cách thế bắt buộc của câu hát.

Một thí dụ có thể còn nghe thấy được là trong bài “Trở về mái nhà xưa” - lời Việt của Phạm Duy.

Câu kết bài hát là “Người ngồi im bóng... lắng nghe tháng ngày qua”. Nhiều ca sĩ, nếu không phải là đa số, đều phải ngắt hơi từ chữ “ngày” mới có sức ngân dài ở chữ “qua” để dứt điểm với nốt cuối của dàn nhạc. Lối ngắt hơi đó là tối kỵ khi trình bày một ca khúc. Hãy nghe lại cách trình bày của những danh ca thực sự thì mình thấy.

Những người dài hơi hơn thì cố để dành sức, và ngắt ở chữ “bóng” trong “người ngồi im bóng” để có thể một hơi mà vượt qua sông, trình bày cho đủ cho rõ câu kết kinh hoàng “lắng nghe tháng ngày qua...” cho tới khi dứt hơi cùng ban nhạc.

Luciano Pavarotti và Anh Ngọc thì hát cả câu, nguyên một lèo mà không cần ngắt hơi.

Anh Ngọc lấy hơi rất chuẩn và ngắt câu rất chính xác, nghĩa là rất đúng với nguyên bản của tác giả. Cách trình bày của ông vì vậy có thể là “khuôn vàng thước ngọc” về nghệ thuật xướng âm, xướng ca hay “phraser” một câu hát. Phải dài hơi và thấm ý tác giả thì mới xướng âm được cho rõ lời. Danh ca là người làm ta nghe rõ lời và hiểu ra hồn nhạc.

Từ giọng ca thiên phú đến cách trình bày có chuẩn mực như thế, Anh Ngọc tự gây khó cho mình vì tinh thần kỹ luật. Người nghe nhạc bằng mắt thì cho rằng ông trình bày thiếu chất đam mê, nồng nhiệt, không thuộc loại gào lăn sống chết với nhạc. Sự thực thì cung cách diễn tả của Anh Ngọc lại rất khó, khó hơn lối phô trương ồn ào của người lấy bóng che hình.

Ông phải để ý đến cách “nuancer”, luyến láy qua từng tiểu tiết, khi nhỏ nhẹ, êm đềm,hay khi trổ giọng như giông bão để dứt ở cao điểm của ca khúc. Ông hát như một người đánh đàn, luôn để ý đến “nuances”, sự “biến sắc” của nhạc, biệt tài của ông là ở chỗ đó. Chẳng trách mà phần lớn người “mê” giọng hát ông đa số có trình độ hiểu biết âm nhạc, nhất là nhạc cổ điển Tây Phương. Ðặc biệt nữa, Anh Ngọc thường chọn những bài khó diễn tả vì đòi hỏi kỹ thuật rất cao. Ông không thích hát những bài dễ dãi, nghe rồi là quên.

Hãy nghe lại các ca khúc như “Trương Chi” của Văn Cao, “Nguyệt Cầm” của Cung Tiến, hay “Ngậm Ngùi” do Phạm Duy phổ thơ Huy Cận, “Nhớ Bạn” của Vũ Thành và “Tạ Từ” của Tô Vũ... Chúng ta sẽ giật mình vì tiếng hát Anh Ngọc chất chứa một niềm u uẩn, một nỗi cô đơn đến lạnh mình. Và ông diễn tả được ý nhạc ấy từ một ý thức về kỷ luật trong nghệ thuật. Kết cuộc là một khí tiết trượng phu trong cách hát. Không là nhân vật Kiều Phong trong truyện thì là ai đây?

Giọng ca Anh Ngọc độc đáo tới mức mà dù vì mến mộ vẫn không ai bắt chước được! Trong khi sau này rất nhiều người vì cũng cố bắt chước giọng Tuấn Ngọc, một giọng hát cũng hiếm quý của nền nhạc Việt. Tuy bắt chước không thể giống hẳn, nhưng đã “hao hao”... Người bắt chước cố nhiên phải yêu giọng mến người, nên Tuấn Ngọc cũng đừng buồn... là mình có quá nhiều âm bản!

Vào thời đại của Anh Ngọc, sự trình diễn trên sân khấu không rộng rãi như hiện tại, nhưng nhân dáng cao gầy, lịch lãm của ông đã là hình ảnh khó quên của khán giả thời đó.

Anh Ngọc là người có thể gợi nhớ hình ảnh của Hà Nội văn vật trong cách ông chọn lựa ca khúc và Sài Gòn văn minh qua cách ông trình bày những ca khúc ấy. Dáng dấp của ông và nghệ thuật của ông khiến chúng ta hiểu chữ “tài tử” theo đúng nghĩa tài hoa, có lẽ đang lạt phai dần trong trí nhớ chung... (Quỳnh Giao : ngày 6 tháng 6 năm 2006 )

amnhacviet.net , vi.wikipedia  , yeunhacvang.com , cothommagazin , nhaccuatui , nguyenmandatxanhacdienanh.blogspost

Ca si Ái Vân


Sinh ra trong một gia đình làm nghệ thuật. Mẹ là nghệ sĩ nhân dân Ái Liên, ba là ông Hà Quang Định, chủ hãng phim Việt Film, hãng phim tư nhân đầu tiên tại Việt Nam, chị em Ái Vân – Ái Xuân có gien nghệ thuật vượt trội hơn cả. Cho dù đều nói giọng Hà Nội chuẩn, nhưng khi chạm chân vào nghệ thuật, cả hai chị em đều mê cải lương đặc sệt Nam bộ.
Chị bảo: “Sở dĩ tôi hát cải lương được là do ngày nhỏ theo má tới đoàn hát, nhìn các cô chú tập các tuồng tích trích đoạn thì ham lắm. Diễn viên cải lương được mặc quần áo đẹp lộng lẫy, óng ánh như công chúa, đứa trẻ nào mà chẳng mơ ước được chạm tới một lần…”.Một hôm, mà Ái Liên kêu hai chị em lại nói: “Xuân hát cải lương thì mùi, còn Vân hát thì cứng, chẳng khác nào Tây hát tiếng Việt cả”. Lời nhận xét thẳng thắn của má giống như gáo nước lạnh tạt vào niềm vui đầy lửa hồng của Ái Vân. Thấy Vân buồn, gia đình bèn cho cô đi học tân nhạc.

17 tuổi, Vân thi vào Nhạc viện và chị đã trượt. Tuy con nhà nòi thật, nhưng từ nhỏ chỉ hát cải lương, Vân trượt không ai ngạc nhiên. Thầy Lô Thanh, giảng viên của nhạc viện, đã phải đứng ra bảo lãnh để đưa Vân vào nhập học. Một cuộc sống âm nhạc chuyên nghiệp mở ra trước mắt chị.
Vào nhạc viện Hà Nội chỉ vài tháng, Ái Vân gặp một sự kiện khác. Đoàn làm phim Chị Nhung của Hãng phim truyện Việt Nam đến trường tuyển diễn viên đóng vai chính trong phim. Với sắc vóc khá lý tưởng, Ái Vân đã được chọn. Việc học tập của cô bị gián đoạn vì đi đóng phim.
 Tới hè năm thứ nhất của năm học đó, bộ phim đã quay xong, nhưng việc học thanh nhạc của Ái Vân thì rất kém. “Cô giáo Mỹ Bình, một giảng viên trong trường, nói rằng giờ em đã 17 tuổi rồi, phải học với một phương pháp khác thì mới có hy vọng theo học tiếp được chương trình. Bằng không em phải chấm dứt việc học ở đây. Lời cô giáo nói khiến tôi giật mình. Tôi biết mình phải thay đổi”, Vân kể.
 Với sự quyết tâm và trợ giúp luyện thanh của cô Mỹ Bình, chị tiến bộ dần. Đến hết năm thứ thư, Vân đã tốt nghiệp hạng ưu và được lên thẳng đại học, không qua lớp dự bị. Sau đó, chị được đoàn ca múa nhạc Bông Sen mời về hợp tác. Thế nhưng, chị làm việc tại nơi này tám tháng thì phải quay về Hà Nội để tiếp tục việc học. Chị cho biết: “Tuy chỉ làm việc với đoàn tám tháng, nhưng tôi đã trưởng thành hơn rất nhiều”.Năm 1981 là mốc bản lề, thay đổi cuộc đời Ái Vân. Cô được Bộ văn hoá chọn đi dự thi Ca nhạc nhẹ quốc tế, tổ chức tại Dresden, Cộng hoà dân chủ Đức (cũ). “Tôi đi thi mang theo kỳ vọng và hoài bão của nhiều người. Vì thế, tôi vừa run vừa tự dặn mình phải cố gắng hết sức”, chị nhớ lại.

Vân chuẩn bị đi thi trong vòng một tháng. Ái Vân mang đến cuộc thi này hai bài hát: Bài ca xây dựng, một sáng tác của Hoàng Vân và Mặt trời chưa bao giờ mọc như vậy, nhạc của Đức. Chiếc áo dài Việt Nam màu đỏ nổi bật, lạ lẫm trên sân khấu cùng với phong cách trình diễn rất Á Đông và sâu lắng của chị đã khiến tiếng vỗ tay dành cho tiết mục dự thi của thí sinh Việt Nam dài hơn.

“Em đoạt giải thưởng Grand Prix rồi. Và đoạt thêm giải thưởng khán giả yêu thích nhất nữa!”, một cán bộ ngoại giao của Việt Nam tại Đức đã không giấu nổi niềm tự hào tới thông báo cho Ái Vân như thế.

Đi tàu từ Dresden về tới sân ga Berlin, đại sứ Việt Nam tại Đức, ông Phan Văn Kim đã ra đón cô ca sĩ vừa bước lên bục vinh quang: “Cám ơn cháu, cháu đã làm được một việc hiệu quả hơn cả 30 năm ngoại giao của chú”, ông Kim xúc động nói.

Sau giải thưởng lớn tại Đức này, ca sĩ Ái Vân bước lên đỉnh cao của nghệ thuật. Các hãng băng đĩa, các chương trình biểu diễn của cả Đông Đức và Tây Đức đều muốn chị biểu diễn
Biểu tượng của vẻ đẹp thời bao cấp
Nhớ lại Hà Nội những năm đầu thập niên 70. Ai cũng nghèo, ai cũng khốn khó. Mọi người phải gồng mình lên như khối sắt thép để xây dựng đất nước và đối chọi với chiến tranh… Nhưng tận sâu bên trong cơ thể bê tông, là trái tim ấm nóng. Những người phụ nữ gài trong túi áo, trong ví mình hình ảnh chàng chiến sĩ tình báo Deyanov đẹp trai, tài ba và mưu trí, dũng cảm trong bộ phim truyền hình dài tập Trên từng cây số của Bungari. Những người đàn ông lại gài trong mình tấm ảnh một cô gái Việt Nam, trong sáng và thánh thiện vô ngần: hình ảnh Ái Vân trong vai chị Nhung của bộ phim cùng tên.

Chị, như một nhà thơ từng nhận xét: mang một vẻ đẹp rất lạ. Lạ ở chỗ đoan trang, mà lại rất “mời mọc”. Ái Vân trỏ thành thần tượng vì ở chị có nét mơ mộng, trẻ trung nhưng lại rất khó tới gần. Hơn nữa, chị thuộc tuyp người đàn bà khiến cho đàn ông trở nên đàn ông hơn, tử tế hơn, hảo hán hơn. Ai cũng muốn che chở, ai cũng muốn tha thứ, dù chẳng vì dụng ý nào cả. Ái Vân, có lẽ, chưa chắc đã mưu cầu điều ấy.

Nhiều nghệ sĩ khác cũng nổi lên trong những năm bao cấp, nhưng chỉ Ái Vân mới giữ được hình ảnh. Chỉ đơn giản: khi đi qua đỉnh cao, họ trở về đúng con người xù xì của họ, chứ không phải hình ảnh óng ánh mà họ tạo ra trước công chúng. Những lứa diễn viên và ca sĩ cùng thời Ái Vân như Lệ Quyên, Tố Uyên, Như Quỳnh đến những lứa diễn viên sau này như Hoàng Cúc, Phương Thanh, Minh Châu, Kim Khanh, Diễm My, Diễm Hương, Việt Trinh chỉ 5, 10 năm sau đã khác. Với Ái Vân, dường như thời gian dừng lại trên khuôn mặt của chị, dù đã ngoài ngũ tuần.
Ái Vân sở dĩ cho đến ngày nay vẫn khiến nhiều người lưu luyến, xao động vì chị khiến cho mọi người trở về với tuổi trẻ, tuổi thơ của họ. Bởi thế, sau này với những khúc ngoặt của cuộc đời với những sai lầm, nhưng mọi người đã tha thứ cho chị tất cả. Chị làm cho người ta tin vào hình tượng của chị, những gì chị nói, chị làm. Chị giữ cho mọi người và cho mình một hình ảnh lung linh, vừa hiện thực nhưng lại rất xa xôi. Đó là sự cứu rỗi cho công chúng, và cho cả Ái Vân.

Hai cuộc hôn nhân không trọn vẹn
Người chồng đầu tiên của chị là nghệ sĩ kịch câm Đặng Dũng. Đặng Dũng khi ấy đẹp trai, hào hoa lãng tử, biết bao thiếu nữ xinh đẹp mê. Cặp đôi Đặng Dũng- Ái Vân được coi là cặp đôi đẹp nhất Hà Nội lúc bấy giờ.
Năm 1983, khi sự nghiệp thăng hoa cũng là lúc chị phải khóc nhiều nhất. Khóc để tiễn đưa cuộc hôn nhân đầu tiên với bao mộng đẹp

Hai người với bản tính lãng đãng, ham vui như nhau nên rất hòa hợp. Thế nhưng mầm mống của tai họa có từ trước khi Đặng Dũng lấy Ái Vân. Khi đó anh đã vay nợ khắp Hà Nội. Khi biết chuyện, Ái Vân rất muốn giải tán nhưng rồi lại tặc lưỡi, chiều theo số phận. Từ đó dẫn tới bi kịch, những chuỗi dài  trả nợ suốt cho chồng. Tuy hai người tính cách lãng mạn, ham vui rất hòa hợp, nhưng đối với Ái Vân, Đặng Dũng là một người đàn ông đầy những bí mật. Nhiều tới mức cho đến bây giờ, hơn hai chục năm sau vẫn có nhiều chuyện chưa giải thích được.

“Thế nhưng đột nhiên, tôi đang trên mây thì bỗng dưng bị rớt xuống tận đáy địa ngục. Vào một ngày sau khi lưu diễn xa về, tôi biết được chồng mình nợ nần khắp nơi. Số tiền đó thật khó tưởng tượng”, giờ kể lại, giọng chị vẫn buồn và thảng thốt.

Nhấp một ngụm nước, chị kể tiếp: “Cứ đến bữa cơm, tôi lại run lên khi nghe tiếng chuông cửa. Người ta thường tới đòi nợ vào đúng bữa cơm vì đó là khoảng thời gian gia chủ có mặt ở nhà. Vợ chồng tôi phải chạy lo khắp nơi để trả nợ. Hỏi anh vì sao vay nợ, anh chỉ im lặng và xin lỗi. Lúc đó, có không ít người nghi ngờ tôi mang tiền ra nước ngoài vì chỉ có tôi là di chuyển thường xuyên. Sự nghi kỵ không được chính thức, nhưng tiếng đồn của nó có thể giết chết một con người. Không chỉ thế, nhiều đồng nghiệp, bạn bè cũng xa lánh tôi vì sợ bị liên luỵ…”.
Từ chuyện của Đăng Dũng khiến cho Ái Vân bị vạ lây, chị mất các hợp đồng biểu diễn, bạn bè xa lánh, gia đình quở trách. Bỗng dưng, Trần Bình xuất hiện. Với vẻ đẹp trai rắn rỏi, đàn ông và sẵn sàng tha thứ cho người đẹp, Trần Bình trở thành người hùng đối với Ái Vân. Anh đưa đón chị hàng ngày đến những nới biểu diễn. Một lần nữa, bản năng muốn được vỗ về thôi thúc chị, mặc cho sự khuyên can của gia đình (trước đó Trần Bình đã có một đời vợ), Ái Vân vẫn quyết định lấy anh. Trần Bình (đạo diễn, NSƯT, Giám đốc Nhà hát Ca nhạc nhẹ Trung ương) , sống cùng gia đình Ái Vân tại 38 phố Huế.

Thế nhưng, cuộc hôn nhân thứ hai cũng không cho chị toại nguyện với ước mơ bình yên đó. Chị tâm sự: “Sau khi kết hôn, không hiểu sao anh tỏ ra ghen tuông ghê gớm. Tôi là một ca sĩ, phải đi lưu diễn thường xuyên. Anh ấy cũng hiểu được điều đó. Thế nhưng, bệnh ghen tuông đã biến anh ấy thành một người khác”. Khi Ái Vân sinh ra một bé trai, chị quyết định sẽ chia tay với chồng nhưng vẫn chưa tìm được lý do.
tìm thấy chốn yên bình
Được cử đi học tại Đông Đức năm 1990, chị đồng ý như một cách để nói lời chia tay người chồng thứ hai của mình.

Sau khi sang đó, chị đã quyết định ở lại, bắt đầu một cuộc sống mới. Trong những tháng ngày này, chị đã gặp được người chồng hiện tại. Anh là một nhà khoa học, tính cách rất điềm đạm và hiền lành. Anh đã đồng cảm và chia sẻ với chị về những lận đận trong quá khứ của một phụ nữ tài hoa. Họ có với nhau một cô con gái. Hai năm sau, từ Đức, vợ chồng Ái Vân chuyển về California, Mỹ, để sinh sống.
Chồng chị cũng khuyến khích vợ hát vì anh biết lòng đam mê nghệ thuật của người bạn đời. Những thông cảm của anh sau bão, có những vết thương đã lành, những sự hờn giận không còn nữa.

Một nhà văn trẻ Việt Nam nói rằng nước mắt bản thân nó đã đẹp. Khi hiểu và chia sẻ với Ái Vân, tôi cho rằng câu thơ Plus belle que les larmes (Đẹp hơn cả nước mắt) rất xứng với những thăng trầm trong cuộc đời nữ nghệ sĩ này.

Tham Khảo :

 
Phụ nữ , xaluan.com , Tiếp thị và Gia đình  , suctrevietnam.com , nhaccuatui , giadinh.net , webtretho.com  , film4asia.com ,






Ca sĩ Trang Mỹ Dung


Trước 1975 ca sĩ Trang Mỹ Dung không xa lạ với khán thính giả miền Nam. Tiếng hát của chị được phát sóng trên đài phát thanh vào cuối năm 1967 và đến giữa năm 1968 chị bắt đầu đi hát ở các phòng trà, đại nhạc hội ở Sài Gòn, lưu diễn các tỉnh...


Sau 1975, nhiều ca sĩ đã ra nước ngoài, riêng chị vẫn ở lại và tiếp tục con đường ca hát. Đã từ lâu không thấy chị xuất hiện ở các tụ điểm ca nhạc, sân khấu, truyền hình. Thỉnh thoảng thấy chị xuất hiện trong một số chương trình ca nhạc Phật giáo, từ thiện.


* Nhắc đến nhạc phẩm Hai mùa mưa của nhạc sĩ Anh Bằng, người nghe nhớ Trang Mỹ Dung. Có phải bài hát này đã làm nên tên tuổi chị ?

- Trang Mỹ Dung: Đây là bài hát đầu tiên tôi thu vào đĩa của hãng Sóng Nhạc và rất may mắn được thính giả đón nhận ưu ái. Lúc ấy có nhiều người nói với tôi rằng họ chú ý và thích nhạc phẩm này vì giọng hát “là lạ” của tôi (cười)... và dư âm của tiếng còi tàu buồn man mác ở đoạn kết bài hát là nhờ cố nhạc sĩ Y Vân phối âm.

* Có đến bốn người đẹp mang họ Trang: Trang Thanh Lan, Trang Kim Yến, Trang Kim Phụng, và Trang Mỹ Dung. Đây là sự trùng hợp ngẫu nhiên hay có sự xếp đặt ?


- Trang Mỹ Dung: Đây có thể là sự trùng hợp ngẫu nhiên, hay nếu có sự xếp đặt của ai đó thì tôi không biết. Khi tôi đi hát được một thời gian ngắn thì nghệ sĩ Tùng Lâm mời tôi tham gia vào Ban Tạp Lục của chú. Ban này phát hằng tuần trên đài phát thanh và thấy các học trò của chú có Trang Thanh Lan, Trang Kim Yến, rồi sau này thêm Trang Kim Phụng. Còn tên Trang Mỹ Dung là do tôi và gia đình đặt khi bắt đầu thu đĩa. Tôi họ Trương tên thật là Mỹ Dung.


* Ngày nay, có rất nhiều ca sĩ “ăn nên làm ra”... Một số ca sĩ cũ tiếc mình “sinh bất phùng thời”, riêng chị thì sao ?

- Trang Mỹ Dung: Ngày xưa tôi đi hát vì yêu âm nhạc. Dẫu biết rằng tiền bạc là cần thiết, nhưng ngoài tiền còn có cái gì đó nữa chứ ! Chẳng hạn như nổi tiếng, được nhiều người yêu mến, đưa đón (cười)... Người ta bảo “sinh bất phùng thời” cũng đúng, nhưng tre già thì măng mọc, còn mọc có tươi tốt hay không thì là chuyện khác. Đạo đức, kiến thức, năng khiếu và sự khổ luyện là tiêu chuẩn hàng đầu để trở thành một ca sĩ, cho nên có không ít ca sĩ “già” nhưng họ vẫn hát hay. Còn tiếc... thì chỉ tiếc thời chúng tôi không có công nghệ lăng-xê, ít phương tiện, nỗ lực của chính bản thân mình là chính.


* Ca sĩ phải lượng sức mình trước một ca khúc, không nên nhận bài nào cũng hát chỉ làm “hư” bài hát thôi. Riêng chị từ khi nổi tiếng chị có bị một áp lực nào từ phía ông bầu (nếu có), biên tập, dàn dựng... phải bỏ bài này hát bài khác không ?

- Trang Mỹ Dung: Là ca sĩ phải tự lượng sức mình trước một ca khúc, nhưng không phải bài nào nhận rồi cũng hát đâu, mà đôi khi nhận chỉ vì sự tế nhị, cả nể... Tôi chưa gặp trường hợp bị áp lực phải bỏ bài này hát bài khác. Nhưng đã gặp “sự cố” rất buồn là bị người biên tập xử ép: lấy bớt bài nhạc đã đưa cho mình để trao cho ca sĩ khác và nói là ca sĩ đó giành.


* Album mới của chị mang tên Trả lại thời gian, ý chị muốn nói...

- Trang Mỹ Dung: Album này tôi thu để tặng bạn bè. Trả lại thời gian là tên bài hát của nhạc sĩ Thanh Sơn, tôi lấy làm tựa cho CD vì thấy hay hay... Tôi đi hát năm U.17 đến bây giờ là U.50 rồi, vẫn đi hát, nhưng có điều là hát từ thiện! Khi nào không hát được nữa thì xin... “Trả lại thời gian”.







Ca Sĩ Anh Khoa



Ca Sĩ Anh Khoa tên thật là Trần Công Khai , quê quán Phan Thiết, ngày sinh nhật là 20 tháng 5, thích nhất con số 14 và những màu đen và vàng.

Năm 12 tuổi anh đã được đề cử tham dự cuộc thi văn nghệ ấp Chiến Lược toàn quốc tổ chức tại rạp Quốc Thanh và đã chiếm giải với nhạc phẩm "Nếu Một Mai Anh Biệt Binh Kỳ".

Năm 1969, giọng hát của Anh Khoa được Joe Marcel (lúc đó đang hoạt động tại vũ trường Ritz) để ý và mời cộng tác và cũng chính Jo là người đã hết lòng dìu dắt và nâng đỡ Anh Khoa trên con đường ca nhạc. Tiếng hát Anh Khoa từ đó vụt sáng chói để trở thành một trong những ca nam "ăn khách" nhất thời bấy giờ qua những chương trình ca nhạc và những băng nhạc và nhiều chương trình truyền hình. Khó ai quên được những "Bài Không Tên" của Vũ Thành an được trình bày qua tiếng hát buồn não nuột của anh.

Sinh trưởng trong một gia đình nghèo nên con đường học vấn của Anh Khoa cũng không thẳng thớm. Anh phải tự bươn chải ngoài đời từ khi còn rất trẻ. Rất yêu âm nhạc nhưng ba mẹ anh  làm gì có tiền cho con bước chân vào trường Quốc gia Âm nhạc. Để thỏa niềm đam mê của mình, anh đã mua sách về mày mò tự học, mua dĩa nhạc ngoại quốc về nghe đi nghe lại, rồi tranh thủ vừa đi làm kiếm tiền vừa đi học thêm và học ngoại ngữ để đủ trình độ hát những bài hát tiếng Anh… cho người Mỹ nghe. Những năm 67-68, Anh Khoa ra Nha Trang đi hát để kiếm tiền, kiếm sống.
Sau đó, giọng ca Anh Khoa được “ông bầu” Jomarcel phát hiện. Và Anh Khoa tự cho là mình thật may mắn khi gặp được anh Jomarcel, vì nhờ vậy anh mới chính thức bước chân vào cánh đồng văn nghệ Sài Gòn bằng “đôi hia bảy dặm”. Vâng, nhờ ông bầu “mát tay” - đưa ca sĩ Anh Khoa lên tivi ngay lần đầu thì đã được khán giả yêu mến. Tên tuổi Anh Khoa với những ca khúc trữ tình đã đồng hành với các danh ca lúc bấy giờ như Lệ Thu, Thanh Lan…
Sau ngày giải phóng, anh thôi không hát những bài tình buồn. Những bài hát đi liền với tên tuổi Anh Khoa là: Mặt trời bé con, Thành phố trẻ, Vết chân tròn trên cát của nhạc sĩ Trần Tiến; những bài tình ca trẻ trung của Nguyễn Ngọc Thiện, Từ Huy... Hồi ấy, hàng năm Sở Văn hóa Thông tin TPHCM thường tổ chức Liên hoan Ca nhạc. Các bài hát: Khát vọng của NS Phạm Minh Tuấn, Trị An âm vang mùa xuân -  Tôn Thất Lập, Nếu tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn guitar - nhạc :Thanh Tùng, lời: Huỳnh Phước Liên… đã mang về cho anh những chiếc huy chương cao quí dành cho ca sĩ chuyên nghiệp.
Vóc dáng cao ráo, đôi mắt to, mái tóc xoăn, làn da trắng và quan trọng là sở hữu một giọng hát “sang” – “cái phông” của Anh Khoa thật “sáng sân khấu”. Nhưng rất tiếc anh đã phải hát bài “theo nàng về dinh” - sau khi cưới cô gái  mang hai dòng máu Hungary và Nga. Anh Khoa đã giả từ ánh đèn màu để đến Hungary xa xôi.
Anh Khoa là một ca sĩ Việt Nam duy nhất lạc lõng tại một quốc gia Đông Âu, Hungary. Lý do về sự có mặt của Anh Khoa tại đó đã được báo chí nhắc nhở tới vào năm 1989 khi anh thành hôn cùng một thiếu nữ Hung Gia Lợi tên Karsai Irina, con gái của một nhân vật cao cấp trong giới ngoại giao, sau một thời gian gặp gỡ tại Sài Gòn.


Tháng 9 & 10/94 anh có dịp sang Mỹ gặp gỡ bạn bè trong giới nghệ sĩ và những khán giả từ lâu không có dịp thấy anh trình diễn. Một "Đêm Anh Khoa và Tình Nghệ Sĩ" đã được tổ chức tại vũ trường Diamond (Orange County). Anh Khoa cho biết số tiền anh có được đêm hôm đó do tiền bán vé và do anh chị em nghệ sĩ tặng anh sẽ gửi về VN để mua 1 căn nhà cho mấy người em. Đó là một điều mơ ước từ lâu của anh mà chưa có dịp thực hiện.

Kỷ niệm đáng ghi nhớ nhất trong cuộc đời nghệ sĩ của anh là thời gian cộng tác với những chương trình ca nhạc của Jo Marcel và những chương trình "Hippies à GoGo" của Trường Kỳ tại vũ trường Ritz. Anh đã nhiều lần xuất hiện trên băng nhạc Paris By Night trước đây nhưng gần đây anh đã vắng bóng. Chắc chắn rằng không ai có thể quên người nam ca sĩ đã 1 thời vang bóng này.

Ca sĩ Anh Chương





Ca SĨ Thúy Hằng

Thúy Hằng trước kia cũng chưa bao giờ nghĩ đến một ngày mình sẽ xuất hiện trên video, mặc dù cô cùng với người chị cả đã từng đi hát nhiều năm trong ca đoàn nhà thờ ở New Orleans, là nơi cô cư ngụ cùng với bố, một người chị và 4 em. Tình trạng gia đình khó khăn về mặt tài chánh, sự ra đi của người mẹ người Hoa Kỳ để lại một bầy em nhỏ mà cô phải chăm sóc đã khiến giấc mộng trở thành ca sĩ của cô trở nên quá xa vời. Hơn nữa thành phố New Orleans chẳng hề có những cơ hội nào để cô có thể đạt được giấc mơ của mình, thường đến với cô sau mỗi lần xem những chương trình ca nhạc trên video. Một người bạn cùng sở với bố cô là trưởng ca đoàn Việt Ca của nhà thờ Việt Nam thuộc giáo phận New Orleans nhận thấy Thúy Hằng có một giọng hát tốt nên đã để cô hát đơn ca trong một buổi tiệc vào dịp Giáng Sinh năm 91, khi Thúy Hằng còn là một cô bé mới được hơn 10 tuổi. Trước đó cô chỉ góp tiếng trong những nhạc phẩm hợp ca cùng với những người bạn thiếu nhi khác trong ca đoàn. Qua nhạc phẩm “Lời Nguyện Cầu Cho Quê Hương” (thường được gọi là nhạc phẩm “Mẹ Ơi Đoái Thương Xem Nước Việt Nam”), anh Vũ Đức Tuấn lần đầu tiên được nghe con gái mình trình bày đơn ca, đã nhận thấy nơi Thúy Hằng có rất nhiều triển vọng, vì anh cũng biết một số căn bản về nhạc lý và là một người có tinh thần văn nghệ rất cao. Chỉ một năm sau, vào năm 92, một họ đạo khác tại thành phố Marrero tổ chức một cuộc thi hát nhân dịp Tết Âm Lịch, Thúy Hằng đã oanh liệt chiếm giải nhất với nhạc phẩm “Lòng Mẹ” trước hơn 20 thí sinh thiếu nhi khác. Nhiều bà mẹ có mặt hôm đó đã không ngăn được nước mát trước sự diễn tả một cách chân thành của một cô bé mồ côi mẹ. Từ đó Tuấn nghĩ là con gái mình có thể trở thành ca sĩ và mong muốn được những trung tâm nhạc để ý tới.

 Qua những lần sinh hoạt thể thao, vào năm 77 bố Thúy Hằng gặp một thiếu nữ Hoa Kỳ 17 tuổi tên Dawn, mẹ Thúy Hằng sau này, và hai người thành hôn vào năm 79 tại Chicago là thành phố mẹ cô cư ngụ. Đến năm 82, Tuấn cùng với Dawn rời Chicago về New Orleans sinh sống khi Thúy Hằng mới lên 2. Cuộc hôn nhân giữa bố và mẹ Thúy Hằng chỉ kéo dài đến năm 89 thì đổ vỡ, sau khi đã có với nhau 6 con.. Vào năm 96, qua một người bạn ở Cali, anh Vũ Đức Tuấn đưa cô con gái Vũ Thị Thúy Hằng - lúc đó mới được 16 tuổi - của anh đến nơi có nhiều cơ hội tiến thân trong lãnh vực ca nhạc để thử thời vận, với một niềm tin tưởng rất mạnh. Nhưng thất vọng đã đến với hai bố con vì họ đã không được một trung tâm nào để ý, với lý do không có thì giờ để thử giọng Thúy Hằng tại phòng thu. Tuy vậy, Tuấn không chán nản mà còn khuyến khích Thúy Hằng thu hai nhạc phẩm với hệ thống Karaoke tại nhà một người bạn ở nam Cali, để nhờ anh này giới thiệu với trung tâm Mây. Sau khi nghe qua hai nhạc phẩm do Thúy Hằng hát bằng Karaoke là “Lòng Mẹ” và “Unchained Melody “, đại diện trung tâm Mây Productions là Trần Đình Hoàng - em ruột giám đốc Mây Productions Trần Đình Thăng - đã liên lạc với Tuấn để mời Thúy Hằng cộng tác. Và kể từ đó, một biến chuyển lớn đã đến với cô thiếu nữ lúc đó đang còn theo học lớp 11 ở trường Karr tại New Orleans.

Sau một thời gian đến với ca nhạc, Thúy Hằng cho biết là cô rất thích vì đối với cô thiếu nữ còn rất trẻ này, đó là một thế giới hoàn toàn mới lạ như cô cho biết bằng một giọng tiếng Việt miền Bắc khá thành thạo pha lẫn một vài câu tiếng Mỹ: “... đi hát đối với cháu nó khác lạ nhiều vì cháu có cơ hội gặp gỡ nhiều người... cháu được đi... you know? everywhere, that's why... hát cũng vui, nh ng mà lâu lâu hát nhiều quá thì thấy mệt“


Cho đến nay Thúy Hằng đã xuất hiện trên 6 chương trình “Hollywood Night” của Mây Productions và trung tâm này đã thu riêng cho tiếng hát của cô khoảng 5 CD, trọng số có “10 Năm Áo Tím”, “Mùa Thu Nhớ Ai”, “Tình Thiên Thu, vv.... Tuy đã đến với ca nhạc được khoảng 5 năm và giấc mơ trở thành ca sĩ của cô đã có thể coi như thành tựu, nhưng Thúy Hằng cho biết là sẽ chỉ xem đó như một nghề tay trái vì cô có mục đích trở thành một dược sĩ, hoặc bất cứ ngành gì liên quan đến y khoa, là những nghề cô cho là có thể giúp ích cho đời, xoa dịu được nỗi khổ đau của con người do bản tính hiền hậu và dễ mến của cô.